Các nhãn hiệu cao cấp đang đánh mất dần sự khác biệt.
Tôi đã thấy hiện tượng này lần đầu tiên ở Atlanta. Hai tháng sau đó, tôi chứng kiến nó một lần nữa ở Madrid. Sau đó, tôi thấy nó xuất hiện ở khắp mọi nơi: Zurich, New York và thậm chí là Minnesota. Những cô gái 12 tuổi ăn bận theo phong cách thể thao, mang ví, túi xách hiệu Louis Vuitton. Không phải đồ giả mạo – tất cả đều là hàng hiệu – những phụ kiện mà bạn phải trả hàng ngàn USD để sở hữu chúng.
Louis Vuitton không phải là thương hiệu duy nhất được ưa thích bởi giới trẻ ngày nay. Những đứa trẻ xếp hàng ngoài cửa hàng của Gucci ở Copenhagen, Đan Mạch. Vào giờ cao điểm, cửa hàng cần đến cả binh đoàn nhân viên để kiểm soát lũ trẻ. Trong tiệm những đứa trẻ đang ngắm nghía mọi thứ, thử dây lưng, nhẫn và nón, giống như những gì mà mẹ chúng thường làm. Và chúng chỉ mua những thứ có giá tối thiểu là 800 USD.
Lũ trẻ đang vượt qua những giới hạn về đạo đức, nhưng chúng ta đừng để ý đến vấn đề đó. Hãy xem nguyên nhân là gì? Đây rõ ràng là nhu cầu được thể hiện bản thân. Lũ trẻ đang chạy theo thời trang, với những sản phẩm đắt tiền chỉ là để cho cả thế giới biết về bản thân chúng – những chiếc dây lưng chưa bao giờ được che kín bởi áo, những chiếc quần short còn thịnh hành hơn cả đồ jean.
Tôi thấy một nhóc đeo một chiếc túi lớn vòng qua cổ của anh ta, túi để mở, trong đó là cả một bộ sưu tập của Gucci. Nó đang mua hai chiếc Big Macs và Coca cola, và nó chỉ khoảng chừng 15 tuổi.
Trở lại cửa tiệm Gucci, những quý bà giàu sang đang lựa chọn những món đồ giống với lũ trẻ đáng tuổi con họ. Những mệnh phụ và những đứa trẻ ở lứa tuổi 15, đi ngang qua nhau, lên xuống thang cuốn. Tôi tự hỏi họ đang nghĩ gì, với những quý bà, họ có thấy hạnh phúc với những nhãn hiệu mình đang dùng hay không khi mà một đứa trẻ 12 tuổi cũng có thể có được những sản phẩm mang nhãn hiệu đó ? Họ có nghĩ rằng thương hiệu mà họ lựa chọn là nhãn hiệu đang hót nhất hay không? Hay là họ đang lúng túng và nghĩ rằng đây có thể là lần cuối cùng họ mua nhãn hiệu này.
Với tham vọng đạt mức tăng trưởng hai con số mỗi năm, những thương hiệu như Louis Vuitton, bây giờ gần như là độc quyền của tất cả những cô gái người nhật. Rolex không còn phụ thuộc vào James Bond. Với dòng thời trang thể thao, Prada đã mất đi tính riêng biệt của nó từ nhiều năm trước. Ở một vài nước, mức giá đã giảm, giá của Prada cao hơn một chút so với đồ của Diesel.
Tôi chắc rằng cổ đông vẫn hạnh phúc về sự tăng trưởng của cổ phiếu. Nhưng đó chỉ là sự tăng trưởng trong ngắn hạn, ngược lại trong dài hạn có thể có sự giảm sút. Có phải những thương hiệu này đang dần đánh mất hình ảnh riêng của mình, và đến một thời điểm nào đó, nó không còn giữ được những nét riêng biệt nữa, đó là một hình ảnh sang trọng trong mắt người tiêu dùng?
Nhu cầu, mong muốn của giới trẻ hay khúc thị trường trẻ không ổn định và hay biến động. Tất nhiên là vẫn có sự trung thành với thương hiệu, nhưng chuyện gì sẽ xảy ra khi thương hiệu không còn phù hợp với xu thế thời trang và đánh mất hình ảnh một thương hiệu “sang trọng”. Họ sẽ thay đổi hoặc nếu họ không thay đổi đi nữa, thì cảm giác yêu thích của họ vẫn bị những đồ vật dễ thương khác thu hút.
Theo chân những người trẻ tuổi, các thương hiệu có bề dày lịch sử và kinh nghiệm sẽ dần biến mất. Có một vài dấu hiệu đã cho thấy xu hướng trên. Những năm vừa qua, lợi nhuận của Gucci và Prada đã giảm sút, mặc dù hướng đi mới trong phong cách sản phẩm đang đáp ứng được thị trường, nhưng tầng lớp quý tộc đang mất dần hứng thú đối với các sản phẩm của họ.
Rủi ro, có thể là tạo nên sự đổ vỡ của các thương hiệu hàng cao cấp. Càng nhiều người mua khiến thương hiệu càng mất đi tính riêng biệt của nó. Đặc tính “xa hoa” của nó bị mất dần theo sự phát triển rộng khắp của nó trong cộng đồng. Đây là một cạm bẫy mà các thương hiệu này phải nhận thấy.
Đâu là giải pháp? Vâng, đề nghị của tôi sẽ không đem đến sự hài lòng cho tất cả mọi người.
Sự thật là thương hiệu cao cấp cần có sự duy trì được tạo ra bởi con người, nếu như họ muốn duy trì tính xa xỉ của sản phẩm. Take Hermes, một thương hiệu cao cấp, thường bán chiếc túi của họ với mức giá khoảng $10.000. Nó khiến thanh thiếu liên chỉ có thể ngắm nhìn qua cửa sổ của các cửa hàng một cách thèm thuồng, điều này cho phép duy trì sức mạnh của giới thượng lưu. Cửa hàng của Hermes có thể không bán được hàng trăm túi xách mỗi ngày nhưng lợi nhuận trên mỗi sản phẩm của công ty có thể gấp đôi các thương hiệu cao cấp khác đang theo chiều hướng “phổ biến”
Trong lĩnh vực các sản phẩm cao cấp, phổ biến thương hiệu ra khắp thị trường có thể đem lại sự gia tăng lợi nhuận trong ngắn hạn, nhưng nó cũng mất đi sự đảm bảo cho sự khác biệt của thương hiệu trong tương lai.
Vì thế trước khi bạn mở rộng, bạn cần xem xét phạm vị mở rộng thương hiệu, đâu là một phạm vi phù hợp. Cao cấp có nghĩa là chỉ có một nhóm nhỏ người tiêu dùng có thể sử hữu sản phẩm đó và khi phổ biến chúng vì mục đích lợi nhuận thì chúng mất dần hình ảnh cao cấp, có nghĩa là mất đi tính riêng biệt của thương hiệu.
Một người khéo léo nói rằng: “Giữ hai con chim trong tay bạn sẽ tốt hơn là có 10 con trên mái nhà.”
Theo http://www.lantabrand.com/cat3news4917.html
10 điều cho nhà thiết kế
10 điều chưa bao giờ được “dạy”
![]() |
| Bạn đi học nhưng chưa hẳn là được biết tất cả mọi thứ (Ảnh minh họa) |
Khi bạn đến trường, có nghĩa là bạn đang vận động trong quá trình thu nạp kiến thức (input), nhưng sau đó là tiếp tục vận hành cho quá trình sản sinh kết quả dùng cho việc nghiên cứu, đi làm… (out put). Nhiều lúc bạn sẽ tự hỏi đây có phải là tất cả những gì chúng ta cần, chúng ta được học? Có thể câu trả lời sẽ không hoàn toàn đúng cho bất kỳ ai, nhưng hãy nhớ rằng chỉ có người biết nhiều, biết ít chứ không ai biết đủ.
1. Tài năng chỉ mang đến 1/3 thành công
Ở bất cứ một lĩnh vực nào, thì nhân tài luôn được trọng dụng nhưng yếu tố này không hề đảm bảo 100% sự thành công. Những giá trị ngang bằng còn đến từ sự chăm chỉ, nỗ lực và may mắn. Làm việc chăm chỉ là khi bạn giữ vững kỷ luật bản thân, đôi lúc cũng phải biết hy sinh mình. Những cơ hội dẫn tới quyền lực, tiền bạc, các mối quan hệ xã hội thiên về sự may mắn. Nên nếu bạn không có tài, bạn vẫn có thể thành công nếu bạn biết xem trọng hai yếu tố trên. Bạn có nghĩ tôi nhầm? Hãy thử nhìn xung quanh mình xem.
2. 95% công việc là “cực hình”
Thường chỉ có 5% công việc ít ỏi thực sự mang đến cho bạn niềm phấn khích. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, bạn hay tập trung và theo đuổi những công việc thú vị. Còn khi bước chân vào thực tế, hầu hết thời gian bạn phải đối mặt với những thứ tẻ nhạt như sổ sách, kiểm tra thông tin, phác thảo vài thứ linh tinh, thương lượng, bán hàng, thu tiền, đóng thuế… Nếu không học được “yêu”, làm “thân” với những thứ gây bực bội để giải quyết chúng một cách “xuôi chèo mát mái” thì bạn sẽ chẳng bao giờ thành công.
3. Nếu mọi thứ đều quan trọng như nhau – Điều đó có nghĩa là chẳng có gì quan trọng cả!
Có thể bạn từng nghe rất nhiều thứ về chi tiết như “God is in the details” hay ” Don’t sweat the details”. (Đừng quá bận lòng với những tiểu tiết). Điều này không sai nhưng cần kèm theo một sự giải thích quan trọng: Luôn cần một thứ tự sắp xếp. Bạn cần chọn ta đâu là việc quan trọng nhất và ưu tiên giải quyết. Tôi đồng ý rằng mọi thứ đều quan trọng nhưng không có nghĩa là mức độ của chúng như nhau.
4. Đừng suy nghĩ quá mức cho một vấn đề
Khi tôi còn là sinh viên, trong khi làm thêm, có một người tôi gọi là “sư phụ” - đó là Steven Izenour. Ông nói rằng tôi đã giải quyết được một đồ án mười tuần chỉ trong vòng một tuần, bây giờ chỉ lo biến nó thành hiện thực nữa thôi. Tất cả những lý luận phê bình mà tôi từng áp dụng trước đó chỉ làm kéo dài và phức tạp thêm vấn đề, trong khi thực chất nó đã được giải quyết. Các designer hay thường bị ám ảnh bởi chính mình, nhưng thỉnh thoảng lại tìm ra một giải pháp thật bất ngờ. .
5. Bắt đầu bằng những thứ bạn biết, rồi giải quyết cái không biết sau
Trong thiết kế, hiểu đơn giản là vẽ ra những gì bạn biết truớc, bạn đã hình dung bắt đầu bằng tất cả những gì bạn hiểu và nắm rõ.
Ví dụ: Thiết kế một chiếc ghế, bạn cần phải biết chiều cao dự tính của người ngồi nó. Những thứ như độ dài, góc nghiêng để tựa, những thứ yêu cầu kèm theo đều có thể ước lượng ra sau. Vậy là đã có thể bắt tay vào thiết kế.
Hầu hết các sinh viên cảm thấy hoảng loạn khi đối mặt với những thứ mình không rõ và không thể kiểm soát. Cách tốt nhất là quên nó đi. Bắt đầu mọi thứ từ cái mình biết, mình hiểu rồi giải quyết lần lượt từng thứ không biết. Đây chính là quy luật quan trọng nhất trong thiết kế. Bạn hãy thử xem, sẽ thấy hiệu quả đấy.
6. Đừng quên mục đích của mình
7. Khi bạn quăng mình đi cũng là lúc bạn sẽ mất cân bằng
Quá tự tin cũng tệ như là kém tự tin vậy. Hãy học cách khiêm tốn khi tiếp cận một vấn đề. Hãy nhận biết và chấp nhận những thứ bạn không biết và làm việc thật cần cù để bù lấp. Người ta chẳng hay nói “luôn cần học hỏi” đấy sao, tức là “muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học”.
Thứ quyền lực tạo ra sự vật và áp đặt nó vào thế giới là một đặc ân. Vì vậy đừng quá lạm dụng, đừng đánh giá thấp những khó khăn, nó vừa làm bạn yếu đi nhưng cũng làm bạn mạnh hơn.
8. Không có hành động tốt nào mà không trả giá
Thế giới đã không còn được chuẩn bị để nâng niu những thứ tuyệt vời nhất hay chống chọi với những thứ tệ hại. Không thể dựa dẫm vào các sáng tạo hay sự xuất sắc vì nếu làm vậy hệ thống xã hội sẽ trở nên khó đoán và bấp bênh hơn. Điều cần thiết lại là sự cân bằng và dễ tiên liệu.
Những ý tưởng sáng tạo chắc chắn phải chịu nhiều thử thách và cần cố gắng lớn mới có thể đi đến thành công. Hầu hết các bạn sẽ nếm trải đủ mọi mùi vị, cung bậc của sự thất bại thế nên cứ làm thật nhiệt huyết đi, làm để thất bại, để bị đẩy lùi và để thành công. Đừng bao giờ đánh giá thấp đối thủ vì nếu bạn tin vào sự tuyệt hảo, thì có lẽ đối thủ của bạn sẽ là chính điều đó.
9. Tất cả đều phải “sản xuất”
Không cần biết máy tính của bạn chạy tốt như thế nào, bài luận của bạn hay như thế nào, hay điểm của bạn xuất sắc như thế nào nhưng nếu bạn không thể sản xuất, không thể phân phối, và làm cho sản phẩm được biết đến thì cơ bản bạn vẫn “vô hình”. Hãy đặt chính mình vào sản phẩm đó, lên kế hoạch và cho tất cả mọi người thèm khát nó đi!
10. Cả thế giới còn lại đều liên quan
Nhiều khi bạn muốn hoàn thành một điều gì, bạn chắc chắn phải cần đến những bạn học mà bạn từng ghét thời trung học. Tôi đã từng tham gia vào một trường thiết kế mà ở đó, họ cho rằng: “Một khi bạn học ở đây, bạn là quan trọng nhất, thế giới còn lại đều không đáng bận tâm”. Không một người nào từ ngôi trường đó mà tôi biết thành công khi tốt nghiệp và bước vào cuộc sống. Thật ra kết quả này bắt nguồn từ tu duy quản lý khiến người ta coi thường kẻ khác.
Bất kể mẫu thiết kế của bạn xuất sắc đến mức nào, phải xem có ai đó muốn sản xuất nó, ai đó thèm mua nó, ai đó thích dùng nó… Hãy tôn trọng tất cả mọi người, dù cho đó là những người bạn ghét nhất vì đơn giản, bạn vẫn luôn cần họ.
100 Best global brands
Đúng thông lệ hàng năm, tạp chí Business Week và hãng Interbrand đã công bố danh sách 100 thương hiệu hàng đầu thế giới năm 2008, với 10 cái tên đầu tiên hầu như không thay đổi so với xếp hạng năm ngoái, và đứng dầu vẫn là Coca-Cola.
Trong tình hình tài chính khó khăn hiện nay, nhiều tập đoàn lớn đã buộc phải cắt giảm chi phí marketing, trong đó có Coca-Cola,Visa, các nhà sản xuất ô tô và các ngân hàng.
Trong khi đó, có những tập đoàn không chấp nhận để những khó khăn trước mắt gây ảnh hưởng đến chiến lược xây dựng thương hiệu dài hạn, như American Express (vị trí 15), hay Diageo (sở hữu thương hiệu Smirnoff, đứng thứ 89). Một số khác thậm chí còn coi đây là cơ hội tuyệt vời để qua mặt đối thủ, như Louis Vuitton (vị trí 16), Kellogg′s (39), Accenture (47), và Kleenex (74).
Để xếp hạng những thương hiệu hàng đầu thế giới, hãng Interbrand đánh giá giá trị thương hiệu giống như cách định giá tài sản doanh nghiệp, tức là dựa trên tính toán khả năng thương hiệu đó có thể kiếm về cho doanh nghiệp bao nhiêu trong tương lai.
Interbrand đã tổng hợp những dự đoán của giới phân tích, tình hình tài chính của công ty cùng với những phân tích định tính và định lượng do chính hãng thực hiện để tính toán giá trị thương hiệu. Các số liệu mà Interbrand sử dụng được thu thập trong vòng 12 tháng, tính đến ngày 30/6/2008. Điều này có nghĩa là những biến động gần đây, như với Merrill Lynch và AIG, không được tính đến.
| 2008 Rank | 2007 Rank | Brand | Country of Origin | Sector | 2008 Brand Value ($m) | Change in Brand Value | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 1 | ![]() |
United States | Beverages | 66,667 | 2% | |
| 2 | 3 | ![]() |
United States | Computer Services | 59,031 | 3% | |
| 3 | 2 | ![]() |
United States | Computer Software | 59,007 | 1% | |
| 4 | 4 | ![]() |
United States | Diversified | 53,086 | 3% | |
| 5 | 5 | ![]() |
Finland | Consumer Electronics | 35,942 | 7% | |
| 6 | 6 | ![]() |
Japan | Automotive | 34,050 | 6% | |
| 7 | 7 | ![]() |
United States | Computer Hardware | 31,261 | 1% | |
| 8 | 8 | ![]() |
United States | Restaurants | 31,049 | 6% | |
| 9 | 9 | ![]() |
United States | Media | 29,251 | 0% | |
| 10 | 20 | ![]() |
United States | Internet Services | 25,590 | 43% | |
| 11 | 10 | ![]() |
Germany | Automotive | 25,577 | 9% | |
| 12 | 12 | ![]() |
United States | Computer Hardware | 23,509 | 6% | |
| 13 | 13 | ![]() |
Germany | Automotive | 23,298 | 8% | |
| 14 | 16 | ![]() |
United States | Personal Care | 22,689 | 8% | |
| 15 | 15 | ![]() |
United States | Financial Services | 21,940 | 5% | |
| 16 | 17 | ![]() |
France | Luxury | 21,602 | 6% | |
| 17 | 18 | ![]() |
United States | Computer Services | 21,306 | 12% | |
| 18 | 14 | ![]() |
United States | Tobacco | 21,300 | 0% | |
| 19 | 11 | ![]() |
United States | Financial Services | 20,174 | -14% | |
| 20 | 19 | ![]() |
Japan | Automotive | 19,079 | 6% | |
| 21 | 21 | ![]() |
Republic of Korea | Consumer Electronics | 17,689 | 5% | |
| 22 | New | ![]() |
Sweden | Apparel | 13,840 | New | |
| 23 | 27 | ![]() |
United States | Computer Software | 13,831 | 11% | |
| 24 | 33 | ![]() |
United States | Computer Hardware | 13,724 | 24% | |
| 25 | 25 | ![]() |
Japan | Consumer Electronics | 13,583 | 5% | |
| 26 | 26 | ![]() |
United States | Beverages | 13,249 | 3% | |
| 27 | 23 | ![]() |
United Kingdom | Financial Services | 13,143 | -3% | |
| 28 | 24 | ![]() |
Switzerland | Beverages | 13,056 | 1% | |
| 29 | 29 | ![]() |
United States | Sporting Goods | 12,672 | 6% | |
| 30 | 28 | ![]() |
United States | Transportation | 12,621 | 5% | |
| 31 | 34 | ![]() |
Germany | Computer Software | 12,228 | 13% | |
| 32 | 31 | ![]() |
United States | Computer Hardware | 11,695 | 1% | |
| 33 | 30 | ![]() |
United States | Alcohol | 11,438 | -2% | |
| 34 | 22 | ![]() |
United States | Financial Services | 11,399 | -21% | |
| 35 | 38 | ![]() |
Sweden | Home Furnishings | 10,913 | 8% | |
| 36 | 36 | ![]() |
Japan | Computer Hardware | 10,876 | 3% | |
| 37 | 32 | ![]() |
United States | Financial Services | 10,773 | -6% | |
| 38 | 35 | ![]() |
United States | Financial Services | 10,331 | -3% | |
| 39 | 40 | ![]() |
United States | Food | 9,710 | 4% | |
| 40 | 44 | ![]() |
Japan | Consumer Electronics | 8,772 | 13% | |
| 41 | 39 | ![]() |
Switzerland | Financial Services | 8,740 | -11% | |
| 42 | 37 | ![]() |
United States | Financial Services | 8,696 | -16% | |
| 43 | 42 | ![]() |
Netherlands | Diversified | 8,325 | 8% | |
| 44 | 76 | ![]() |
Canada | Media | 8,313 | New | |
| 45 | 46 | ![]() |
Italy | Luxury | 8,254 | 7% | |
| 46 | 48 | ![]() |
United States | Internet Services | 7,991 | 7% | |
| 47 | 50 | ![]() |
United States | Computer Services | 7,948 | 9% | |
| 48 | 43 | ![]() |
Germany | Diversified | 7,943 | 3% | |
| 49 | 41 | ![]() |
United States | Automotive | 7,896 | -12% | |
| 50 | 45 | ![]() |
United States | Automotive | 7,609 | -1% | |
| 51 | 51 | ![]() |
France | Personal Care | 7,508 | 7% | |
| 52 | 52 | ![]() |
United States | Media | 7,193 | 4% | |
| 53 | 54 | ![]() |
Germany | Automotive | 7,047 | 8% | |
| 54 | 47 | ![]() |
United States | Financial Services | 7,022 | -6% | |
| 55 | 49 | ![]() |
France | Financial Services | 7,001 | -4% | |
| 56 | 53 | ![]() |
United States | Food | 6,646 | 2% | |
| 57 | 57 | ![]() |
United States | Personal Care | 6,437 | 7% | |
| 58 | 62 | ![]() |
United States | Internet Services | 6,434 | 19% | |
| 59 | 56 | ![]() |
United States | Computer Hardware | 6,393 | 6% | |
| 60 | 58 | ![]() |
France | Luxury | 6,355 | 9% | |
| 61 | 59 | ![]() |
United States | Food | 6,105 | 6% | |
| 62 | 64 | ![]() |
Spain | Apparel | 5,955 | 15% | |
| 63 | 63 | ![]() |
Switzerland | Food | 5,592 | 5% | |
| 64 | 60 | ![]() |
United States | Restaurants | 5,582 | -2% | |
| 65 | 55 | ![]() |
United States | Internet Services | 5,496 | -9% | |
| 66 | 67 | ![]() |
France | Food | 5,408 | 8% | |
| 67 | 68 | ![]() |
Germany | Automotive | 5,407 | 11% | |
| 68 | 66 | ![]() |
United States | Diversified | 5,288 | 5% | |
| 69 | 65 | ![]() |
United States | Personal Care | 5,264 | 3% | |
| 70 | 69 | ![]() |
Germany | Sporting Goods | 5,072 | 6% | |
| 71 | 71 | ![]() |
Switzerland | Luxury | 4,956 | 8% | |
| 72 | 72 | ![]() |
Republic of Korea | Automotive | 4,846 | 9% | |
| 73 | New | ![]() |
Canada | Consumer Electronics | 4,802 | New | |
| 74 | 70 | ![]() |
United States | Personal Care | 4,636 | 1% | |
| 75 | 75 | ![]() |
Germany | Automotive | 4,603 | 9% | |
| 76 | 73 | ![]() |
France | Luxury | 4,575 | 8% | |
| 77 | 61 | ![]() |
United States | Apparel | 4,357 | -20% | |
| 78 | 78 | ![]() |
Japan | Consumer Electronics | 4,281 | 4% | |
| 79 | 83 | ![]() |
Switzerland | Luxury | 4,236 | 10% | |
| 80 | 79 | ![]() |
United States | Luxury | 4,208 | 5% | |
| 81 | 74 | ![]() |
United States | Restaurants | 4,097 | -4% | |
| 82 | 80 | ![]() |
Germany | Financial Services | 4,033 | 2% | |
| 83 | 85 | ![]() |
France | Alcohol | 3,951 | 6% | |
| 84 | 84 | ![]() |
United Kingdom | Energy | 3,911 | 3% | |
| 85 | 88 | ![]() |
United States | Restaurants | 3,879 | 7% | |
| 86 | 81 | ![]() |
Netherlands | Financial Services | 3,768 | -3% | |
| 87 | 77 | ![]() |
United States | Consumer Electronics | 3,721 | -10% | |
| 88 | 89 | ![]() |
United States | Consumer Electronics | 3,682 | 2% | |
| 89 | 91 | ![]() |
United Kingdom | Alcohol | 3,590 | 6% | |
| 90 | 92 | ![]() |
Japan | Automotive | 3,588 | 7% | |
| 91 | 94 | ![]() |
Italy | Luxury | 3,585 | 9% | |
| 92 | 90 | ![]() |
United States | Personal Care | 3,582 | 4% | |
| 93 | New | ![]() |
Italy | Automotive | 3,527 | New | |
| 94 | New | ![]() |
Italy | Luxury | 3,526 | New | |
| 95 | 87 | ![]() |
France | Alcohol | 3,513 | -3% | |
| 96 | New | ![]() |
United States | Hospitality | 3,502 | New | |
| 97 | 93 | ![]() |
Netherlands | Energy | 3,471 | 4% | |
| 98 | 96 | ![]() |
Germany | Personal Care | 3,401 | 9% | |
| 99 | New | ![]() |
United States | Transportation | 3,359 | New | |
| 100 | New | ![]() |
United States | Financial Services | 3,338 | New | |
Theo: Interbrand
Hiểu đúng về xây dựng thương hiệu
Xây dựng thương hiệu không chỉ là sự thừa nhận sản phẩm hay một Logo đơn giản. Nó là tất cả những ấn tượng mang cảm xúc và trí tuệ mà mọi người có được khi nghĩ về công ty của bạn và sản phẩm của nó. Nó là những thông điệp nhất quán và mạnh mẽ về giá trị mà công việc kinh doanh của bạn tạo ra.
Xây dựng thương hiệu là một chiến lược kinh doanh liên tục, dễ dàng đo lường các chi phí về thời gian, tiền bạc, và sự nỗ lực. Ở một khía cạnh khác, giá trị của nó, để thiết lập thì khó khăn hơn nhiều bởi vì, nó bao hàm việc đo lường những liên kết về xúc cảm không thể trực tiếp chuyển vào doanh thu. Xây dựng thương hiệu là yếu tố cơ bản nhất để tạo ra thành công, nó có thể được tăng cường trong thời điểm, khi công việc kinh doanh đang bùng nổi lẫn khi phát triển chậm, bởi bạn muốn khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng duy trì mối liên hệ tuyệt đối với công ty của bạn và dịch vụ của nó.
Bạn tạo ra những thông điệp và truyền tải nó ra bên ngoài thông qua hoạt động marketing, quảng cáo dịch vụ khách hàng, internet. Xây dựng thương hiệu là toàn bộ những gì mà công ty của bạn nói về nó. Sau đây là những nhân tố chính cần được phân tích và đảm bảo trong chiến lược thương hiệu của bạn:
1. Các nguyên liệu marketing được thiết kế một cách chuyên nghiệp (Logo, đồ dùng văn phòng, quảng cáo, và những nguyên liệu khác..)
Những nguyên vật liệu này sẽ nói cho khách hàng biết công ty của bạn mạnh mẽ, thân thiện, và đáng tin. Các nguyên liệu marketing có thể củng cố những hình ảnh và định vị của công ty của bạn hơn nữa và hơn nữa.
2. Kiên định trong quảng cáo
Phát triển một tagline ngắn gọn, xúc tích mô tả công ty bạn và sử dụng nó. Phát triển một chiến dịch có thể nhưng thông điệp khác nhưng có thể thể thừa nhận như thương hiệu của bạn.
3. Dịch vụ khách hàng hoàn hảo – luôn luôn vậy.
Đảm bảo rằng toàn bộ nhân viên của bạn được truyền đạt hoàn hảo những thông điệp về thương hiệu.
4. Website hiệu quả và chuyên nghiệp.
Nó phải cho phép người xem dễ dàng tìm thấy và hiểu. Nó cho phép người xem có thể hiểu những gì công ty bạn làm và tại sao họ cần chú ý. Tạo ra sự hấp dẫn, dễ dàng tới hiểu, và nội dung đáng quan tâm. Cho phép người xem dễ dàng thực hiện việc mua bán.
5. Thương hiệu của bạn khác biệt.
Đảm bảo rằng khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng của bạn hiểu, tại sao thương hiệu của bạn khác biết so với đối thủ cạnh tranh. Bạn muốn có được mức lợi nhuận cao hơn với những khán giả mục tiêu của mình, bạn phải thúc đẩy lòng trung thành của họ trong một chiến lược dài hạn.
xây dựng thương hiệu không phải là những gì bạn nói về công ty và sản phẩm của nó; Xây dựng thương hiệu là nói về sự nhận thức của khách hàng về công ty và sản phẩm của bạn. Để xây dựng tốt thương hiệu của bạn, bạn phải trả lời được các câu hỏi sau: Bạn làm gì để tạo ra sự khác biệt? Tại sao bạn quan trọng đối với khách hàng của bạn? Nếu bạn không thể trả lời những câu hỏi này, bạn không có một thương hiệu hiệu quả.
6. Hành động
Xác định những điểm mạnh của công ty, sản phẩm , dịch vụ của bạn. Xác định rõ những điểm mạnh và những lợi ích chủ chốt rồi đảm bảo chiến lược xây dựng thương hiệu của bạn (nguyên liệu marketing, quảng cáo, bán hàng, dịch vụ khách hàng, logo.vv..) thúc đẩy công việc kinh doanh.
Font chữ nói lên điều gì trong cuộc chiến quyền lực tại Mỹ
Các nhà thiết kế font chữ vào cuộc giải mã những ứng cử viên tổng thống Mỹ

Font chữ có thể định nghĩa một cách rất khôn khéo về một công ty, sản phẩm hoặc một nhân vật nào đó. Bất kể đó là font đậm, nhạt hay nghiêng, một kiểu chữ dễ thương, trang nhã trên một nhãn rượu cũng nói lên cho chúng ta nhiều điều. Logo của các ứng cử viên tổng thống không phải là ngoại lệ
Clinton
Chữ Hillary không mang chút gì trẻ trung, màu sắc cả, nó chính thống, hơn là gợi lên sự yêu mến. Font chữ đem lại cảm giác buồn tẻ. Nhìn vào logo của Hillary như là nhìn vào những trang layout từ thập niên 80 hay như là một công ty đầu tư vậy. Các chữ cái viết thường cao ngheu lên gợi đến một người với cái gấu quần được xắn cao. Tôi đang tự hỏi về 3 ngôi sao, nó đại diên cho cái gì nhỉ? Cuộc đua vào Nhà Trắng lần 3?
Edwards
Edwards là ứng cử viên duy nhất dùng font chữ không có chân làm font chính. Không giống như những font chữ không chân truyền thống được dùng trong chiến dịch, font chữ của Edwards cởi mở và thân thiện. Trong chiến dịch lần trước, Edwards sử dụng font có chân. Có lẽ nó khiến cho ông thất bại thê thảm vào năm 2004. Font chữ lần này có hơi hướng rất..Walmart, đẳng cấp trung bình, không có gì của một luật sư cao cấp cả.
Cái nhìn về việc đổi logo
Không phải logo nào khi làm mới lại đều tốt cả, có những cái thậm chí còn rối rắm và phức tạp hơn cái cũ. Một khi thương hiệu đã định hình trong lòng khách hàng, làm mới nó luôn là một áp lực rất lớn cho các CEO (giám đốc điều hành) của một công ty. Ấy thế mà, lại có những logo mới, khi nhìn xong, chúng ta sẽ tự hỏi ngay : “Cái lão (hay bà) giám đốc này chắc là gan cùng mình lắm ?! “
Paypal

BAD
Paypal đã phá bỏ một logo tốt. Từ một logo ấn tượng, trong sáng, mạch lạc và rõ ràng, Paypal đã chuyển sang lựa chọn một logo khác mảnh khảnh hơn. Khá nhiều khoảng trống gây cảm giác trúc trắc. Hai màu xanh cũng không hòa hợp với nhau lắm. Logo Paypal giờ đây trông giống logo của một nhãn hiệu kem đánh răng.
Gà rán Kentucky

GOOD
Có lẽ Paypal nên lấy KFC làm ví dụ trong việc làm mới lại logo của mình. Logo mới của KFC quả nhiên là trong sáng và rõ ràng hơn. “Ngài đại tá” giờ đây đã bỏ đi chiếc áo khoác trắng, thay vào đó là chiếc tạp dề ngụ ý là mình cũng đã từng là một người phục vụ trong cửa hàng KFC. Phần hoàn thiện các chi tiết nhỏ cũng làm nó trông hiện đại và thân thiện hơn. Tôi thực sự thích nó !
Công ty xây dựng Hindustan

GOOD
Có lẽ bạn chưa từng nghe nói về công ty này dù rằng nó đã tồn tại được 80 năm. Đó là lý do vì sao, công ty quyết định thay đổi logo của mình. Đây là một ví dụ tốt trong việc làm mới thương hiệu rất đáng noi gương. Hoàn toàn mới mẻ và ấn tượng.
Dairy Queen

BAD
Nhìn kìa, họ đã đặt thêm hai nét cong “đầy tâm huyết” vào một logo hoàn hảo. Logo mới giống ý như cái cũ nhưng lại rối rắm hơn. Màu sắc cũng không thật sự hòa hợp. Cái này không phải là cải tiến, mà là “cải lùi” thì đúng hơn !
Armor All

GOOD
Một lời khen tôi dành tặng cho người thiết kế logo mới này. Nó trông ngon mắt và có kết cấu khá chặt chẽ. Chắc hẳn mọi người sẽ đồng ý với tôi !
Payless Shoes Source

BAD
Khi xem xong tôi có ngay mấy câu hỏi thế này :
- Các vòng cong trưng cho gì nhỉ ? Nó tượng trưng cho sản phẩm giày như thế nào nhỉ ?
- Hình như họ muốn một phong cách Web 2.0, nhưng tại sao nhỉ ?
- Bạn có nhận thấy là là họ đã phí phạm một thương hiệu cực kỳ độc đáo không ?
Enterprise

GOOD
Enterprise đã làm rất tốt công việc này. Họ giữ nguyên kết cấu, bố cục và màu sắc, nhưng có cải tiến một chút ở phần chữ bằng cách phóng to nó ra, giúp nó dễ nhận biết hơn. Tôi chỉ hơi tiếc cho chữ “E” ở logo cũ. Nó rõ ràng hơn ! Nhưng thôi, tổng thể vẫn quan trọng hơn ! Chữ “E” mới là một lựa chọn hợp lý !
Astroturf

GOOD
Không thể phủ nhận tính sắc sảo và nổi bật của logo mới . Dáng vẽ của nó năng động và thể thao, gần giống với lgo Patriot (một logo về thể thao – xem hình đính kèm)

NFL

GOOD
Những thay đổi mới bao gồm: Bỏ đi nét cong lượn ỡ chữ L, tinh chỉnh hình dáng quả bóng, lược bỏ bớt một vài ngôi sao. Chúng giúp logo trông gọn gàng và mạch lạc hơn. Một logo tốt !
Ảnh hưởng của thương mại điện tử
Sự ra đời của Thương mại điện tử đã tác động đến nhiều khía cạnh của kinh doanh hiện đại: Ngân hàng, marketing, sản xuất, chiến lược kinh doanh, định vị và phân khúc thị trường,…
Tác động đến hoạt động marketing
- Nghiên cứu thị trường: Một mặt Thương mại điện tử hoàn thiện, nâng cao hiệu quả các hoạt động nghiên cứu thị trường truyền thống, một mặt tạo ra các hoạt động mới giúp nghiên cứu thị trường hiệu quả hơn. Các hoạt động như phỏng vấn theo nhóm, phỏng vấn sâu được thực hiện trực tuyến thông qua Internet; hoạt động điều tra bằng bảng câu hỏi được thực hiện qua công cụ webbased tiện lợi, nhanh và chính xác hơn.
- Hành vi khách hàng: Hành vi khách hàng trong thương mại điện tử thay đổi nhiều so với trong thương mại truyền thống do đặc thù của môi trường kinh doanh mới. Các giai đoạn xác định nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá lựa chọn, hành động mua và phản ứng sau khi mua hàng đều bị tác động bởi Internet và Web.
- Phân khúc thị trường và Thị trường mục tiêu: Các tiêu chí để lựa chọn thị trường mục tiêu dựa vào tuổi tác, giới tính, giáo dục, thu nhập, vùng địa lý… được bổ sung thêm bởi các tiêu chí liên đặc biệt khác của Thương mại điện tử như mức độ sử dụng Internet, thư điện tử, các dịch vụ trên web…
- Định vị sản phẩm: Các tiêu chí để định vị sản phẩm cũng thay đổi từ giá rẻ nhất, chất lượng cao nhất, dịch vụ tốt nhất, phân phối nhanh nhất được bổ sung thêm những tiêu chí của riêng thương mại điện tử như nhiều sản phẩm nhất (Amazon.com), đáp ứng mọi nhu cầu của cá nhân và doanh nghiệp (Dell.com), giá thấp nhất và dịch vụ tốt nhất (Charles Schwab)…
- Các chiến lược marketing hỗn hợp: Bốn chính sách sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh cũng bị tác động của Thương mại điện tử. Việc thiết kế sản phẩm mới hiệu quả hơn, nhanh hơn, nhiều ý tưởng mới hơn nhờ sự phối hợp và chia xẻ thông tin giữa Nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà cung cấp và khách hàng (Li&Fung.com). Việc định giá cũng chịu tác động của Thương mại điện tử khi doanh nghiệp tiếp cận được thị trường toàn cầu, đồng thời đối thủ cạnh tranh và khách hàng cũng tiếp cận được nguồn thông tin toàn cầu đòi hỏi chính sách giá toàn cầu và nội địa cần thay đổi để có sự thống nhất và phù hợp giữa các thị trường. Việc phân phối đối với hàng hóa hữu hình và vô hình đều chịu sự tác động của Thương mại điện tử, đối với hàng hóa hữu hình quá trình này được hoàn thiện hơn, nâng cao hiệu quả hơn; đối với hàng hóa vô hình, quá trình này được thực hiện nhanh hơn hẳn so với thương mại truyền thống. Đặc biệt hoạt động xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh có sự tiến bộ vượt bậc nhờ tác động của Thương mại điện tử với các hoạt động mới như quảng cáo trên website, quảng cáo bằng e-mail, diễn đàn cho khách hàng trên mạng, dịch vụ hỗ trợ khách hàng 24/7…
Thay đổi mô hình kinh doanh
Một mặt các mô hình kinh doanh truyền thống bị áp lực của Thương mại điện tử phải thay đổi, mặt khác các mô hình kinh doanh thương mại điện tử hoàn toàn mới được hình thành.
Thay đổi các mô hình kinh doanh truyền thống như: Ford Motor. com; Charles Schwab, IBM.com…
Mô hình kinh doanh mới: Dell.com, Amazon.com, Cisco.com,…
Tác động đến hoạt động sản xuất
Các hãng sản xuất lớn nhờ ứng dụng Thương mại điện tử có thể giảm chi phí sản xuất đáng kể. Có thể phân tích một số mô hình để thấy rõ hiệu quả của Thương mại điện tử trong sản xuất:
Tác động đến hoạt động ngân hàng
Hàng loạt các dịch vụ ngân hàng điện tử được hình thành và phát triển mở ra cơ hội mới cho cả các ngân hàng và khách hàng.
1. Internet banking
2. Thanh toán thẻ tín dụng trực tuyến
3. Thanh toán bằng thẻ thông minh
4. Mobile banking
5. ATM
6. POS
Tác động đến hoạt động vận tải, bảo hiểm
Mô hình kinh doanh bảo hiểm cũng bị thay đổi bởi tác động của Thương mại điện tử. Cụ thể xem mô hình trong phần tác động đến các ngành nói chung
Tác động đến hoạt động ngoại thương
Đối với hoạt động ngoại thương, Thương mại điện tử có những tác động hết sức mạnh mẽ do đặc thù của Internet là toàn cầu rất phù hợp với các giao dịch thương mại quốc tế. Mọi hoạt động trong quy trình kinh doanh quốc tế đều chịu tác động của Thương mại điện tử. Chi tiết xem chuyên đề của UNCTAD về ứng dụng Internet vào Thương mại quốc tế.
-
Archives
- November 2009 (1)
- November 2008 (2)
- October 2008 (1)
- September 2008 (6)
- August 2008 (4)
- July 2008 (3)
-
Categories
-
RSS
Entries RSS
Comments RSS




































































































